Bài thuốc hay từ trái bí đao
Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả cuốn từ điển cây thuốc Việt Nam cho biết, bí đao còn được gọi là bí phấn hay bí xanh, tên khoa học là Benincasa hispida (Thumb). Cogn. Cây thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae.
Theo mô tả, bí đao là cây thảo một năm, mọc leo dài tới 5 cm, có nhiều lông dài. Lá cây hình tim hay thận, đường kính 10-25 cm, xẻ 5 thùy chân vịt. Tua cuốn thường xẻ 2-5 nhánh. Hoa đực mọc đơn độc trên cuống dài 5-15 cm. Lá đài hình ngọn giáo, cánh hoa hình bay. Nhị có chỉ nhị rộng ra ở gốc. Nhụy lép dạng tuyến. Hoa cái mọc đơn độc trên cuống dài 2-4 cm, bầu hình trứng hay hình trụ, có lông rậm, nhị lép hình bản. Quả thuôn dài 25-40 cm, dày 10-15 cm, lúc non có lông cứng, khi già có sáp ở mặt ngoài, nặng 3-5 kg, màu lục mốc, chứa nhiều hạt dẹp.
Cây này mọc chủ yếu ở vùng có khí hậu mát. Ra hoa vào tháng 6-7, có quả tháng 7-10. Bí đao có nguồn gốc ở Ấn Độ, được trồng rộng rãi ở hầu hết các vùng nhiệt đới cũng như á nhiệt đới của châu Á và miền đông châu Đại Dương. Cây được trồng nhiều nơi ở nước ta để lấy quả, gọi là đông qua bì. Hạt cũng được sử dụng để làm thuốc. Để làm thuốc chữa bệnh, người ta thường chờ đến khi quả già thì lấy thịt quả, vỏ quả và hạt.
Bí đao có vị ngọt, tính lạnh, không độc, vỏ quả tính mát có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, tiêu thũng, giải nhiệt. Hạt giúp kháng sinh tiêu độc, trừ giun, thanh nhiệt thẩm thấp, hóa đàm bài nung. Nghiên cứu dược lý cho thấy quả bí đao chứa β-sitosterol, β-sitosterol acetat, lupeol và lupeol acetat, 0,4% protein, 0,1%lipit, 3,2% carbohidrat, 0,3% chất vô cơ và vitamin B. Sáp và vỏ quả chứa chất triterpen gọi là isomultiflorenol acetat.
Bí đao được dùng để trị nhiều bệnh như thận, viêm thủy thũng, tiểu tiện không thông, đái tháo đường, bạch đới, trẻ em nóng sốt vào mùa hè, viêm thận cấp tính, toàn thân phù thũng, ngộ độc cua, cá. Hạt trị ho, giải độc, trị rắn cắn. Đặc biệt, hạt bí để lâu ngày chữa được bệnh bạch đới.
Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc hay từ bí đao như sau:
- Phù thũng (cả mình và mặt đều phù): Dùng bí đao và hành củ nấu canh với cá chép ăn thường ngày; hoặc 40 g bí đao, 40 g đậu đỏ sắc đặc uống hằng ngày.
- Đái không thông, đái đục, đái ra chất nhầy: Vỏ bí đao sắc đặc lấy nước uống.
- Đái tháo đường: 20 g vỏ bí đao, 20 g vỏ dưa hấu, thiên hoa phấn (qua lâu căn) 20 g. Tất cả đem nấu với một lít nước để sôi 10 phút rồi trữ vào ấm uống cả ngày. Hoặc dùng 100 g bí đao tươi để cả vỏ và hạt, củ mài 50 g, lá sen 50 g nấu nước uống cả ngày.
- Đái tháo đường, miệng khát tâm phiền: Dùng 300 g thịt quả bí (đông qua nhương) thu trữ vào mùa hạ - thu rồi phơi khô dưới nắng to hoặc sấy than, nghiền nát. Mỗi lần dùng 1/10 sắc nước gạn bỏ bã, uống khi còn ấm.
- Bạch đới: Dùng 250 g hạt bí đao lâu ngày đem sao lên, nghiền nát vụn, mỗi lần dùng 15 g pha với nước cơm uống mỗi ngày 2 lần, liên tiếp 5-7 ngày.
Bản tình ca sưởi ấm giữa Mùa đông
Mùa đông không chỉ đến bằng những cơn gió hun hút thổi qua các kẽ lá, mà còn len lỏi vào tâm hồn con người bằng cái cảm giác se sắt, trống trải.
Phương pháp nào duy trì "lửa yêu" thời kỳ tiền mãn kinh?
Tiền mãn kinh không phải là "điểm kết thúc" của đời sống gối chăn, nhưng nó chắc chắn là một bước ngoặt đòi hỏi sự điều chỉnh về cả nhận thức lẫn hành động.
Khi người đàn ông chưa thể quên người cũ
Đàn ông không hay than vãn, nhưng họ lại có khả năng lưu trữ ký ức rất sâu. Có những người, dù thời gian đã trôi qua vài năm, vẫn mang theo hình bóng người cũ như một món nợ chưa quyết toán.
Lý giải nguyên nhân vì sao chúng ta thường nhắm mắt khi hôn?
Hầu hết mọi người đều nhắm mắt khi hôn. Không có quy tắc nào nói rằng bắt buộc phải nhắm mắt lại. Vậy tại sao chúng ta thường nhắm mắt khi hôn?