Tác giả của câu chuyện ấy là chị Bùi Kim Thùy, Thành viên Hội đồng cố vấn Harvard khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Phó Chủ tịch President Club Vietnam, người đoạt Giải Nhất Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 với tác phẩm “Người thầy đầu tiên”.

Viết về cha sau 10 năm ông qua đời, chị không chỉ kể lại cuộc đời của một người lính, người thầy và người cha mà còn lần giở những ký ức gia đình qua nhiều thế hệ. Ở đó có chiến tranh, những năm tháng bao cấp, những bữa cơm giản dị, những nguyên tắc sống tưởng như nghiêm khắc và cả một tình yêu thương mà người cha chưa bao giờ giỏi nói thành lời.

Trong năm, bố của tác giả Bùi Kim Thùy có hai ngày đặc biệt.

Một ngày 27/7, ông thắp hương cho người anh trai đã hy sinh tại chiến trường Quảng Đà và tưởng nhớ những người đồng đội đã nằm lại. Ngày còn lại là sinh nhật ông. Nhưng sinh nhật của người cha ấy không có bánh, không có nến hay những lời chúc dành cho chính mình. Ông chuẩn bị một mâm cơm, thắp hương mời cha mẹ về rồi nói với các con rằng, ngày mình được sinh ra trước hết là ngày người mẹ đã chịu đau để sinh mình ra đời.

Bài học ấy được ông lặp lại trong ngày sinh nhật của ba người con.

“Ngày sinh nhật, người mà các con phải bày tỏ sự biết ơn lớn nhất chính là mẹ của các con, người phải chịu đau rất đau để sinh ra các con. Các con có thể tổ chức sinh nhật với bạn bè hoặc có thể không, nhưng hãy cố gắng không bao giờ quên gọi điện cho mẹ, cảm ơn mẹ vì vào ngày này mẹ rất đau để sinh ra các con”, chị Thùy nhớ lại lời cha.

Tác phẩm “Người thầy đầu tiên” của tác giả Bùi Kim Thùy đoạt giải Nhất cuộc thi viết Cha và con gái lần thứ 4 - 2026

Trong bài dự thi “Người thầy đầu tiên”, chị kể một câu chuyện khác giản dị đến mức có thể nhiều người sẽ đi qua mà không nhận ra chiều sâu của nó.

Một ngày, cha hỏi ba chị em: “Các con có biết trên cơ thể mình, điều gì nhắc các con nhớ nhất đến mẹ không?”. Những đứa trẻ lần lượt nghĩ đến khuôn mặt, đôi bàn tay, những bữa cơm mẹ nấu.

Cha lắc đầu.

“Là cái rốn”.

Ông giải thích, dây rốn từng nối những đứa con với mẹ. Cái rốn nhắc rằng các con đã được nuôi dưỡng bằng máu thịt của mẹ. Vì vậy, sinh nhật có thể có tiệc, có thể không, nhưng nhất định đừng quên cảm ơn người mẹ đã sinh ra mình.

Đó cũng là cách người thầy dạy Toán gieo vào những đứa con bài học đầu tiên về lòng biết ơn.

Người cha không nói “bố thương con”

Cha của tác giả Bùi Kim Thuỳ sinh năm 1949 tại Xuân Trường, Nam Định, là người con thứ năm trong gia đình có tám anh chị em. Tuổi thơ của ông đi qua trong những năm tháng khó khăn. Có những ngày ông thức dậy từ 4 giờ sáng, đi chân đất bốn cây số đến làng Hành Thiện để học. Khi giành giải cao nhất trong một cuộc thi Toán toàn miền Bắc giữa những năm đất nước còn chiến tranh, ông vẫn là cậu con trai luôn nhường phần cơm, củ khoai cho các em.
Rồi chiến tranh đưa người thanh niên ấy rời giảng đường. Khi người anh trai hy sinh tại chiến trường Quảng Đà, ông nhiều lần viết đơn xin nhập ngũ cho đến khi được chấp nhận.

Sau chiến tranh, người lính trở về tiếp tục học Đại học Sư phạm Toán, đứng trên bục giảng và trở thành thầy giáo. Nhưng theo chị Thùy, chiến trường dường như chưa bao giờ thực sự rời khỏi con người ông. Sự kỷ luật, chính trực và rạch ròi giữa đúng – sai theo ông từ chiến trường đến giảng đường, rồi bước vào cách ông nuôi dạy các con.

Ông nghiêm khắc với hai cô con gái. Khi các con còn nhỏ, những lời yêu thương thường được nói bằng mệnh lệnh.

“Không được”.

“Phải học”.

Chỉ khi trưởng thành, đi qua những va vấp và có thêm khoảng lùi của thời gian, chị Thùy mới càng thấm thía những điều cha từng dạy và cả những tình cảm mà cha con trong gia đình đã ít khi nói thành lời.

“Có lẽ chúng tôi cũng là những người rất ấm áp, tình cảm trong gia đình, nhưng lại tiết kiệm lời khen, tiết kiệm những lời nói ấm áp, tình cảm yêu thương dành cho nhau thông qua lời nói”, chị Thùy chia sẻ.

Bởi thế, điều chị tiếc nhất có lẽ không phải là một lời khuyên chưa kịp nghe hay một câu chuyện chưa kịp kể, mà là chưa từng nói với cha thật rõ ràng rằng chị yêu cha đến nhường nào. Nếu có thể gặp lại cha, chị chỉ muốn nói một câu giản dị:

“Bố ơi con yêu bố, con rất là yêu bố”.

Một người cha đứng dưới ánh đèn đường

Có lẽ trong hàng trăm trang ký ức về cha, điều khiến người đọc nhớ nhất lại không phải những thành tích của một người thầy giỏi Toán, mà là hình ảnh một người cha đứng lặng dưới ánh đèn đường giữa đêm khuya.

Sau cuộc hôn nhân đầu tiên đổ vỡ, chị Thùy gọi điện cho cha.

“Bố ơi, con về với bố nhé”.

Đầu dây bên kia im lặng một lát rồi người cha chỉ nói:

“Ừ, con về với bố đi. Bố chờ”.

Khi chị về đến đầu phố, từ xa đã nhìn thấy cha đứng đó. Người đàn ông từng bỏ thuốc lá nhiều năm, đêm ấy hút lại từng điếu. Ông không hỏi con đúng hay sai, không trách móc, không bắt con giải thích, dù điều đó là khủng khiếp với một đại gia đình lớn chưa từng có ai ly hôn.

Ông chỉ đứng đó, chờ con gái trở về. Sau đó, ông lặng lẽ sửa sang căn phòng trên tầng bốn để đón con gái về nhà.

“Bố thương tôi vô vàn, nhưng chưa bao giờ nói: Bố thương con lắm. Tình yêu của bố nằm trong căn phòng đã được quét dọn sạch sẽ. Trong bóng người đứng chờ dưới ngọn đèn đường. Trong điếu thuốc sau nhiều năm ông đã bỏ. Và trong một câu nói ngắn gọn: Con về với bố đi”.

Đó có lẽ cũng là lúc một người con trưởng thành hiểu rằng tình yêu của cha đôi khi không nằm ở những câu nói dễ nghe. Nó nằm trong những việc cha âm thầm làm, trong một cánh cửa luôn mở, một căn phòng được chuẩn bị sẵn và một câu nói đủ để người con biết rằng mình vẫn có nơi để trở về.

Tốc độ thành công của các con phải nhanh hơn tốc độ già đi của cha mẹ

Trong câu chuyện của tác giả Bùi Kim Thùy, người cha không chỉ dạy các con cách sống mà còn trao cho họ một niềm tin: hãy học tập, trưởng thành và trở thành người có ích. Nhưng cũng chính từ hành trình ấy, chị nhận ra một sự thật khiến người trưởng thành thường đau lòng: cha mẹ không thể chờ mãi.

Cha mất năm 2016 sau một cơn đột quỵ, khi mới 68 tuổi. Khi ấy, những người con của ông vẫn đang trên hành trình đi tới những thành công mà cả đời cha mẹ đã chờ đợi.

Sau này, khi các con có sự nghiệp, trưởng thành và có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước, ông đã không còn ở đó để chứng kiến.

“Điều thôi thúc tôi lớn nhất khi tham gia cuộc thi viết Cha và con gái ấy chính là cha mình đã không còn nữa. Tôi nhớ ông rất nhiều và toàn bộ ký ức về ông, sự hồi tưởng về ông, về gia đình tôi cũng là bối cảnh chung của rất nhiều gia đình miền Bắc Việt Nam, từ trải qua chiến tranh cho tới thời bao cấp rất khó khăn, cho tới thời kinh tế thị trường mở cửa”, chị Thùy nói.

Chị viết về cha nhưng cũng viết về một thế hệ đã đi qua chiến tranh, nghèo khó và những năm tháng đất nước chuyển mình. Trong câu chuyện riêng của gia đình mình, chị nhìn thấy bóng dáng của rất nhiều gia đình Việt Nam: những người cha mẹ cả đời hy sinh nhưng ít nói về sự hy sinh ấy; những người con lớn lên, đi xa rồi một ngày chợt nhận ra có những điều nếu không nói khi cha mẹ còn sống thì sẽ không bao giờ còn cơ hội nói nữa.

“Tốc độ thành công của các con phải nhanh hơn tốc độ già đi của cha mẹ. Vì bố mẹ không thể chờ được đến khi con có thể thành công và báo hiếu”, chị Thùy chia sẻ.

Đó cũng là câu khiến câu chuyện của chị vượt ra khỏi ký ức riêng về một người cha. Bởi có những niềm vui nếu đến muộn, vẫn là niềm vui. Nhưng có những niềm vui phải đến đủ sớm để cha mẹ còn kịp nhìn thấy, để bàn tay ấy còn nắm được bàn tay ta, để người con còn có thể nói: “Bố ơi, con ổn rồi”. Và để người cha còn có thể trả lời: “Về đây với bố”.

Tác giả Bùi Kim Thuỳ chụp ảnh lưu niệm cùng đại gia đình tại Lễ trao giải Cuộc thi viết Cha và con gái lần thứ 4 - 2026

Bài học không có trong sách giáo khoa

Trong bài dự thi, chị Thùy viết rằng cha là thầy giáo dạy Toán, từng vô địch Toán toàn miền Bắc, từng đứng đầu lớp đại học và được nhiều thế hệ học sinh yêu quý. Nhưng bài học lớn nhất ông để lại không phải là cách tìm ra đáp số của một phương trình.

Đó là bài học về lòng biết ơn, sự chính trực, lòng tự trọng, trách nhiệm với gia đình và đất nước.

Người cha ấy từng trả lại những chiếc phong bì mà phụ huynh mang đến, bởi ông hiểu rằng nếu nhận tiền, ngày hôm sau ông sẽ không còn có thể đứng trên bục giảng với sự thanh thản. Ông từng đi bộ hàng cây số để học, từng treo đôi dép mới trên cổ vì tiếc không muốn đi mòn, từng rời giảng đường để cầm súng khi đất nước cần.

Với các con, ông không dạy tình yêu đất nước bằng những lời lớn lao. Ông dạy bằng cách sống.

“Bố dạy chúng tôi biết ơn. Biết ơn người mẹ đã sinh ra mình. Biết ơn những người đã không trở về. Biết ơn hòa bình, tri thức và những cơ hội mà thế hệ mình được nhận. Có lẽ lòng biết ơn chính là hình thức gần gũi và bền vững của lòng yêu nước”, chị viết.

Và đó cũng là điều chị muốn gửi gắm khi nói về cuộc thi viết “Cha và con gái”.

Theo chị Thùy, trong bối cảnh công nghệ, AI và robot ngày càng có thể thay thế nhiều hoạt động thông thường của con người, có một điều không thể thay thế ấy là sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình và tình cảm mà cha mẹ, con cái dành cho nhau.

“Cuộc thi có một ý nghĩa đặc biệt đối với cá nhân tôi, đối với gia đình tôi và tôi hy vọng cuộc thi sẽ được lan tỏa đến hàng triệu gia đình Việt Nam. Sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, tình cảm ấm áp mà các thành viên có thể dành cho nhau, đặc biệt là giữa cha mẹ và con cái, là những thứ tình cảm không thể bị thay thế bởi AI và robot”.

Chị cũng đánh giá cao vai trò của Tạp chí Gia đình Việt Nam trong việc tạo ra không gian để những câu chuyện gia đình được kể lại, để những giá trị tưởng như rất đỗi quen thuộc được nhắc nhớ và kết nối nhiều thế hệ.

“Tạp chí Gia đình Việt Nam đã làm một công việc vô cùng có ý nghĩa, đó là giúp gắn kết các thành viên trong các gia đình Việt Nam, lan tỏa những giá trị và ý nghĩa lớn lao về tầm quan trọng của gia đình. Khi những thành viên hạnh phúc, gia đình hạnh phúc thì cả xã hội và đất nước sẽ hạnh phúc”.

Mười năm sau ngày cha mất, tác giả Bùi Kim Thùy vẫn nhớ mâm cơm ông chuẩn bị trong ngày sinh nhật, nhớ câu chuyện về “cái rốn”, nhớ dáng cha đứng dưới ánh đèn đường và nhớ cả cách ông khen con bằng một câu hạ thấp thành tích để con khỏi kiêu. Những ký ức ấy giờ đã trở thành một phần đời của người con.

Cha đã không còn để chị có thể gọi điện và nói rằng mình đã thành công, đã ổn, đã trưởng thành. Nhưng có lẽ, nếu được nghe thấy, ông sẽ vẫn chỉ nói một câu rất quen thuộc: “Về đây với bố”.

Bởi trong suốt cuộc đời mình, người cha ấy đã trao cho các con gần như tất cả những gì một người cha có thể trao: tri thức, kỷ luật, lòng tự trọng, sự liêm chính, một mái nhà để trở về và niềm tin rằng dù con có gặp chuyện gì, bố vẫn đứng đó chờ con.